Sri Lanka
quốc đảo ở Nam Á
Sri Lanka, quốc hiệu là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Dân chủ Sri Lanka và từng được gọi là Tích Lan, là một đảo quốc với đa số dân theo Phật giáo ở Nam Á, nằm cách khoảng 53 km ngoài khơi bờ biển bang Tamil Nadu phía nam Ấn Độ. Quốc gia này thường được gọi là "Hòn ngọc Ấn Độ Dương". Dân số Sri Lanka khoảng 20 triệu người.
Là một quốc gia nằm trên đường nối hàng hải chiến lược giữa Tây Á và Đông Nam Á, Sri Lanka từng là trung tâm tôn giáo và văn hóa Phật giáo thời cổ. Một số người dân nước này theo Hindu giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo và các tôn giáo thổ dân khác. Người Sinhala chiếm đa số (74,8%), ngoài ra còn có các cộng đồng người người Tamil, người Moor, Burgher và người thổ dân khác. Nổi tiếng về sản xuất và xuất khẩu chè, cà phê, cao su và dừa, cũng có một nền kinh tế công nghiệp hiện đại và đang phát triển. Vẻ đẹp tự nhiên của những cánh rừng nhiệt đới Sri Lanka, các bãi biển và phong cảnh cũng như sự giàu có về các di sản văn hóa biến nước này thành điểm đến nổi tiếng với du khách thế giới.
Sau hơn một ngàn năm dưới quyền cai trị của các vương quốc độc lập và từng bị sáp nhập vào Đế chế Chola, Sri Lanka bị Bồ Đào Nha và Hà Lan chiếm làm thuộc địa trước khi bị chuyển qua tay Đế chế Anh.Trong Chiến tranh thế giới thứ hai nước này là một căn cứ chiến đấu quan trọng chống lại Nhật Bản. Một phong trào chính trị đòi độc lập đã xuất hiện trong nước vào đầu thế kỷ XX, cuối cùng Sri Lanka được trao trả độc lập năm 1948. Dù đã có một giai đoạn dân chủ ổn định và phát triển kinh tế, nước này đã bị tàn phá bởi cuộc nội chiến đẫm máu giữa người Sinhala nắm chính phủ và lực lượng ly khai của người Tamil do LTTE lãnh đạo, lực lượng này yêu cầu thành lập một nhà nước Tamil độc lập ở phía đông bắc Sri Lanka. Những trận sóng thần do vụ động đất Ấn Độ Dương 2004 gây ra đã tàn phá các vùng phía nam và đông bắc nước này, khiến nhiều người thiệt mạng và rất nhiều người khác phải di chuyển nhà cửa.
Tên gọi
Sri Lanka là một thuộc địa hoàng gia do người Anh cai trị từ năm 1815, tên chính thức là "Ceylon", tiếng Trung Quốc phiên âm thành "Xī lán" (錫蘭 - Tích Lan). Tên tiếng Anh này có nguồn gốc từ tiếng Bồ Đào Nha "Ceilão". Từ năm 1972 thì Trung Quốc và Đài Loan gọi Sri Lanka bằng tên mới 斯里蘭卡 (Sīlǐlánkǎ) được lấy từ tiếng Anh Sri Lanka, phiên âm Hán Việt của 斯里蘭卡 là Tư Lý Lan Tạp.
Năm 1972, tên chính thức của đất nước được đổi thành "Cộng hòa Sri Lanka Tự do, Chủ quyền và Độc lập " (ශ්රී ලංකා śrī lankā trong tiếng Sinhala (trong khi chính hòn đảo này tự gọi mình là ලංකාව lankāva), இலங்கை ilaṅkai trong tiếng Tamil). Năm 1978 nó được đổi thành "Cộng hòa Sri Lanka xã hội chủ nghĩa dân chủ". Trước năm 1972, Sri Lanka được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau: các nhà địa lý học Hy Lạp cổ đại gọi nó là Taprobane, người Ả rập gọi là Serendib, Ceilão là tên chính thức do người Bồ Đào Nha đặt khi họ tới hòn đảo này, nhưng có lẽ tên nổi tiếng nhất là Ceylon. "Sri Lanka" (nguyên gốc từ tiếng Phạn) được dịch thành "Lanka đáng kính", "śrī" nghĩa là "đáng kính trọng" và "laṃkā" là tên cổ của hòn đảo đã được kiểm chứng trong cuốn Mahabharata và sử thi Ramayana.
Lịch sử
Những khu định cư của loài người từ thời kỳ đồ đá cũ đã được phát hiện tại các điểm khai quật trong nhiều hang động tại vùng đồng bằng phía tây và phía tây nam vùng Đồi Trung tâm. Các nhà nhân loại học tin rằng một số kiểu nghi thức mai táng và những đồ trang trí cho thấy những sự tương đồng giữa những cư dân đầu tiên trên hòn đảo này và những cư dân sống tại nam Ấn Độ. Một trong những đoạn văn bản đầu tiên đề cập tới hòn đảo này đã được tìm thấy trong sử thi Ramayana của Ấn Độ, trong đó miêu tả hoàng đế Ravana là vua của vương quốc hùng mạnh Lanka. Những đoạn văn quan trọng khác đề cập tới lịch sử đất nước cũng được tìm thấy trong các cuốn biên niên sử Mahavansa và Dipavamsa.
Những cư dân đầu tiên trên hòn đảo Sri Lanka ngày nay có thể là tổ tiên của người Wanniyala-Aetto, cũng được gọi là Veddahs với dân số khoảng 3.000 người. Phân tích ngữ âm cho thấy có sự tương quan giữa tiếng Sinhala và các ngôn ngữ Sindh và Gujarat, dù đa số các nhà sử học tin rằng cộng đồng Sinhala đã xuất hiện sau sự đồng hóa nhiều nhóm dân tộc khác. Người Dravidia có thể đã bắt đầu di cư tới hòn đảo này từ thời tiền sử. Một số điểm khảo cổ học đáng chú ý, gồm cả tàn tích Sigiriya, được gọi là "Pháo đài trên bầu trời", và các công trình công cộng lớn có từ thời cổ đại. Trong số những công trình công cộng đó có những "bể nước" hay hồ chứa nước lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc tích trữ nước cho mùa khô, và các hệ thống cống dẫn nước tinh vi, với độ nghiêng được xác định chỉ là một inch trên mỗi dặm. Sri Lanka cổ đại cũng là một trong những đất nước đầu tiên trên thế giới đã thành lập một bệnh viện chuyên môn tại Mihintale từ thế kỷ thứ IV trước Công Nguyên. Sri Lanka cổ đại cũng là nhà xuất khẩu quế hàng đầu thế giới, quế đã được xuất khẩu sang Ai Cập ngay từ năm 1.400 trước Công Nguyên. Sri Lanka cũng là nước Châu Á đầu tiên có vua cai trị là nữ giới, Nữ hoàng Anula (47–42 TCN).
Sri Lanka cổ đại nằm dưới quyền quản lý của nhiều tiểu quốc, chia thành nhiều vùng khác nhau. Hòn đảo này thỉnh thoảng cũng phải chống trả các cuộc xâm lược từ phía các vương triều Nam Ấn và nhiều phần của nó cũng phải trải qua các giai đoạn cai trị của triều đại Chola, triều đại Pandya, triều đại Chera và triều đại Pallava. Sri Lanka cũng từng bị các vương quốc Kalinga (Orissa hiện đại) và các vương quốc từ Bán đảo Malay xâm chiếm. Phật giáo từ Ấn Độ được Tỳ kheo Mahinda, con trai của hoàng đế Maurya Ashoka, đưa tới đây từ thế kỷ thứ III TCN. Phái đoàn của Mahinda đã chiếm được lòng tin của vua Singhalese là Devanampiyatissa xứ Mihintale, vị vua quyết định theo tôn giáo mới và truyền bá nó trong khắp dân cư Sinhala. Các vương quốc Phật giáo tại Sri Lanka xây dựng một số lượng lớn các trường Phật học và đền chùa, và hỗ trợ việc truyền bá đạo Phật vào vùng Đông Nam Á.
Sri Lanka luôn là một cảng biển và đầu mối thương mại quan trọng của thế giới cổ đại, và các tàu buôn từ Trung Đông, Ba Tư, Myanmar, Thái Lan, Malaysia, Indonesia cũng như các vùng khác ở Đông Nam Á ngày càng lui tới đây đông hơn. Các nhà thám hiểm Châu Âu đầu tiên tới vùng Đông Nam Á đã biết tới hòn đảo này và nhiều thương gia Ả rập cũng như Malaysia đã định cư ở nơi đây. Một sứ đoàn thực dân Bồ Đào Nha tới đây năm 1505. Ở thời điểm ấy, hòn đảo gồm ba vương quốc, là Yarlpanam (Anh hóa Jaffna) ở phía bắc, Kandy ở vùng Đồi Trung tâm và Kotte ở bờ biển phía tây. Người Hà Lan đã tới đây vào thế kỷ XVII. Dù phần lớn Sri Lanka bị các cường quốc châu Âu xâm chiếm làm thuộc địa, vùng phía trong, vùng đồi núi, với thủ đô là Kandy vẫn giữ được độc lập. Công ty Đông Ấn Anh đã hoàn thành việc xâm chiếm hòn đảo vào năm 1796, tuyên bố Sri Lanka là một thuộc địa hoàng gia năm 1802, dù Sri Lanka không được kết nối chính thức với Ấn Độ thuộc Anh. Sự sụp đổ của vương quốc Kandy năm 1815 làm toàn bộ hòn đảo bị Đế quốc Anh đô hộ.
Thực dân châu Âu đã thiết lập hàng loạt các đồn điền chè, quế, cao su, đường, cà phê và chàm. Người Anh cũng mang tới một lượng lớn công nhân hợp đồng từ Tamil Nadu để làm việc tại các đồn điền đó. Thành phố Colombo được dựng lên làm trung tâm hành chính, và người Anh lập ra các trường học, đại học, đường sá và nhà thờ hiện đại, áp đặt nền giáo dục và văn hóa châu Âu lên người bản xứ. Sự bất bình ngày càng tăng về việc hạn chế nhân quyền, đối xử bất bình đẳng và lạm dụng người dân bản xứ của chính quyền thuộc địa khiến cuộc đấu tranh giành độc lập bắt đầu diễn ra từ thập kỷ 1930, khi Liên đoàn Tuổi trẻ phản đối "Bản ghi nhớ của các vị bộ trưởng," theo đó đòi hỏi chính quyền thuộc địa phải tăng quyền lực cho hội đồng bộ trường mà không trao cho nhân dân quyền đại diện cũng như các quyền tự do cá nhân. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, hòn đảo này trở thành một căn cứ quân sự quan trọng của Đồng Minh. Một phần quan trọng của hạm đội Anh, Mỹ đã được triển khai tại đây, và hàng chục nghìn binh sĩ đã tham chiến chống Nhật Bản tại vùng Đông Nam Á.
Đương đại
Sau chiến tranh, áp lực của dân chúng đòi quyền độc lập ngày càng tăng. Ngày 4 tháng 2 năm 1948 nước này giành được độc lập với tên gọi Thịnh vượng chung Ceylon. Don Stephen Senanayake trở thành Thủ tướng đầu tiên của Sri Lanka. Năm 1972, nước này trở thành một nước cộng hòa bên trong Khối thịnh vượng chung, và đổi tên thành Sri Lanka. Ngày 21 tháng 7 năm 1960 Sirimavo Bandaranaike trở thành người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo chính phủ thời hậu thuộc địa tại Châu Á khi bà chính thức nhận chức thủ tướng. Trong thập kỷ 1970, những cuộc xung đột chính trị nổ ra giữa các cộng đồng Sinhala và Tamil. Cộng đồng Tamil chỉ trích sự phân biệt đối xử và việc tước quyền chính trị ngày càng tăng và đòi hỏi nhiều quyền tự trị cho vùng mình. Trong thập kỷ 1980, hòa bình và sự ổn định từ lâu trên hòn đảo đã bị tan vỡ khi phong trào ly khai Tamil do lực lượng Những con hổ giải phóng Tamil (LTTE), dẫn đầu yêu cầu thành lập một nhà nước Ealam độc lập tại đông bắc Sri Lanka. Một thỏa thuận hòa bình năm 1986 do Ấn Độ trung gian đã tan vỡ năm 1988 khi binh lính gìn giữ hòa bình Ấn Độ đụng độ quân sự trực tiếp với LTTE trong khi đang nỗ lực giải giáp. Những người quốc gia Sri Lanka yêu cầu rút quân Ấn Độ, và tới năm 2000, 50.000 người đã thiệt mạng trong các trận chiến giữa Quân đội Sri Lanka và LTTE, đang nắm quyền kiểm soát nhiều vùng phía đông bắc. Một cuộc ngừng bắn tạm thời đã tái lập hòa bình cho hòn đảo khi chính phủ và LTTE bắt đầu cuộc đàm phán ngoại giao với sự trung gian của Na Uy. Trận động đất Ấn Độ Dương 2004 đã gây ra những cơn sóng thần mạnh tàn phá bờ biển phía nam và phía đông nước này, giết chết và buộc gần 40.000 người dân phải chuyển chỗ ở.
Từ năm 1985 đến 2006, chính phủ Sri Lanka và phiến quân Tamil đã tổ chức bốn vòng đàm phán hòa bình nhưng không thành công. Cả LTTE và chính phủ đều nối lại giao tranh vào năm 2006, và chính phủ chính thức rút khỏi thỏa thuận ngừng bắn vào năm 2008. Năm 2009, dưới nhiệm kỳ Tổng thống của Mahinda Rajapaksa, Lực lượng Vũ trang Sri Lanka đã đánh bại LTTE, chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài 26 năm vào ngày 19 tháng 5 năm 2009, và tái thiết lập quyền kiểm soát của Chính phủ Sri Lanka trên toàn bộ đất nước. Nhìn chung, có từ 60.000 đến 100.000 người đã thiệt mạng trong suốt 26 năm xung đột.
Các vụ đánh bom lễ Phục sinh tại Sri Lanka năm 2019 do nhóm khủng bố National Thowheeth Jama'ath thực hiện vào ngày 21 tháng 4 năm 2019 đã cướp đi sinh mạng của 261 người vô tội một cách tàn bạo. Vào ngày 26 tháng 4 năm 2019, một chiến dịch chống khủng bố nhằm vào National Thowheeth Jama'ath đã được Lục quân Sri Lanka thực hiện thành công, đánh dấu sự chấm dứt cuộc nổi dậy của nhóm này.
Những rắc rối về kinh tế ở Sri Lanka bắt đầu từ năm 2019, khi một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng xảy ra do nợ nước ngoài tăng nhanh, thâm hụt ngân sách chính phủ khổng lồ do cắt giảm thuế, lượng kiều hối sụt giảm, khủng hoảng lương thực do quy định bắt buộc canh tác hữu cơ đi kèm lệnh cấm phân bón hóa học, cùng vô số các yếu tố khác. Chính phủ Sri Lanka chính thức tuyên bố cuộc khủng hoảng đang diễn ra là cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất ở nước này trong vòng 73 năm. Vào tháng 8 năm 2021, tình trạng khẩn cấp về lương thực đã được ban bố. Đến tháng 6 năm 2022, Thủ tướng Ranil Wickremesinghe đã tuyên bố sự sụp đổ của nền kinh tế Sri Lanka trước quốc hội. Cuộc khủng hoảng này đã khiến Sri Lanka lần đầu tiên trong lịch sử vỡ nợ với khoản nợ công lên tới 51 tỷ USD, đi kèm với lạm phát ở mức hai con số, một cuộc khủng hoảng năng lượng tê liệt dẫn đến việc cắt điện khoảng 15 giờ mỗi ngày, tình trạng thiếu hụt nhiên liệu trầm trọng dẫn đến việc ngừng cung cấp xăng dầu cho tất cả các phương tiện không thiết yếu, cùng nhiều rối loạn kinh tế khác. Do hậu quả của cuộc khủng hoảng, các cuộc biểu tình đường phố quy mô lớn đã nổ ra trên khắp cả nước, với việc người dân yêu cầu Tổng thống Gotabaya Rajapaksa từ chức. Các cuộc biểu tình lên đến đỉnh điểm với việc xông vào và bao vây Dinh Tổng thống vào ngày 9 tháng 7 năm 2022, khiến Tổng thống Gotabaya Rajapaksa phải tháo chạy sang Singapore và sau đó gửi email từ chức tới quốc hội, chính thức tuyên bố thoái vị và trở thành tổng thống Sri Lanka đầu tiên từ chức giữa nhiệm kỳ. Cùng ngày Dinh Tổng thống bị thất thủ, những người biểu tình cũng đã bao vây, đột nhập vào dinh thự riêng của thủ tướng và phóng hỏa thiêu rụi tòa nhà này.
Sau khi Quốc hội bầu Ranil Wickremesinghe làm tân tổng thống vào ngày 20 tháng 7 năm 2022, Wickremesinghe đã tuyên thệ nhậm chức Tổng thống thứ chín của Sri Lanka. Ông đã triển khai hàng loạt cải cách nhằm ổn định nền kinh tế Sri Lanka, qua đó giúp tình hình kinh tế có những bước cải thiện nhẹ kể từ đó. Vào ngày 23 tháng 9 năm 2024, ứng cử viên cánh tả Anura Kumara Dissanayake đã tuyên thệ nhậm chức tân tổng thống của Sri Lanka sau khi giành chiến thắng trong cuộc bầu cử. Ngày 14 tháng 11 năm 2024, liên minh thiên tả Quyền lực Nhân dân Quốc gia (NPP) của Tổng thống Anura Kumara Dissanayake đã giành được thế đa số hai phần ba tại quốc hội trong cuộc bầu cử quốc hội Sri Lanka.
Địa lý và khí hậu
Hòn đảo Sri Lanka nằm ở Ấn Độ Dương, phía tây nam Vịnh Bengal và phía đông nam Biển Ả rập.Vịnh Mannar và Eo biển Palk ngăn cách đảo này với tiểu lục địa Ấn Độ. Theo thần thoại Hindu, thần Rama đã cho đắp một cây cầu nối hải đảo với lục địa Ấn Độ, mệnh danh là "cầu của Rama" hoặc "cầu của Adam". Công trình huyền thoại này nay một dải đá vôi và bãi cát ngầm chỉ nhô lên khi thủy triều xuống. Theo những văn bản ghi chép tại những ngôi đền, con đường nổi thiên nhiên này trước kia đã tồn tại, nhưng đã bị một cơn bão mạnh (có thể là một cơn lốc xoáy) năm 1480 phá huỷ. Chiều rộng của Eo biển Palk khá nhỏ nền từ bờ biển Sri Lanka có thể quan sát thấy điểm xa nhất gần thị trấn Rameswaram của Ấn Độ. Hòn đảo với hình dạng viên ngọc trai này chủ yếu gồm các đồng bằng phẳng, núi non chỉ có ở phần trung nam. Núi Sri Pada với điểm cao nhất là Pidurutalagala (cũng được gọi là Mt Pedro), cao 2.524 mét (8.281 ft). Mahaweli ganga (sông Mahaweli) và các con sông chính khác là nguồn cung cấp nước ngọt.
Khí hậu
Khí hậu Sri Lanka có thể coi là nhiệt đới và khá nóng. Vị trí nằm giữa vĩ độ 5 và 10 độ bắc khiến nước này có khí hậu ấm, được các cơn gió đại dương giữ ôn hòa và cung cấp khá nhiều lượng hơi ẩm. Nhiệt độ trung bình trong khoảng từ mức thấp 16 °C tại Nuwara Eliya ở vùng Cao nguyên Trung tâm (nơi có thể xuất hiện băng giá trong một số ngày mùa đông) tới mức cao 32 °C tại Trincomalee tại bờ biển phía đông bắc (nhiệt độ cao nhất có thể lên đến 38 °C). Nhiệt độ trung bình năm cả nước từ 28 đến 30 °C. Nhiệt độ ngày và đêm có thể chênh lệch từ 4 đến 7 độ. Vào tháng 1, tháng lạnh nhất, người dân vùng đồi núi và một số nơi khác phải mặc áo khoác và áo len. Tháng 5, tháng nóng nhất, cũng là tháng trước mùa mưa. Lượng mưa bị ảnh hưởng bởi gió mùa từ Ấn Độ Dương và Vịnh Bengal, bị địa hình vùng Cao nguyên Trung tâm ngăn cản, chúng gây mưa lớn ở những vùng núi và khu vực phía tây nam hòn đảo. Một số nơi ở phía núi chắn gió lượng mưa có thể lên tới 2500 mm mỗi tháng, nhưng phía đông và đông bắc đối diện, lượng mưa thấp hơn hẳn. Những cơn gió mạnh định kỳ và những cơn lốc xoáy bất thường che phủ bầu trời và mang mưa tới khu vực tây nam, đông bắc, và những vùng phía đông hòn đảo. Khoảng thời gian từ tháng 12 tới tháng 3, gió mùa từ phía đông bắc thổi đến, mang theo hơi ẩm từ Vịnh Bengal. Độ ẩm ở vùng tây nam và vùng núi nói chung cao hơn và phụ thuộc vào lượng mưa theo mùa. Ví dụ, tại Colombo, độ ẩm ban ngày cao hơn 70% trong cả năm, lên tới khoảng 90% vào tháng 6, mùa gió mùa. Anuradhapura có độ ẩm ban ngày ở mức thấp 60% vào thời kỳ gió mùa tháng 3, nhưng lên tới mức cao 79% trong mùa mưa tháng 11 và tháng 12. Ở vùng cao nguyên, độ ẩm ban ngày tại Kandy thường thay đổi trong khoảng 70 và 79%.
Hệ động thực vật
Mô hình hệ sinh thái Sri Lanka phụ thuộc trực tiếp vào lượng mưa. Vùng núi và vùng phía tây nam đất nước, được gọi là "vùng ẩm," có lượng mưa trung bình hàng năm 2500 mm. Đa số phần phía đông nam, đông và bắc đất nước là "vùng khô", với lượng mưa trung bình hàng năm 1200 tới 1900 mm. Đa số lượng mưa tại các khu vực đó xảy ra từ tháng 10 tới tháng 1; trong khoảng thời gian còn lại của năm, lượng mưa rất thấp, và mọi loài động thực vật phải biết cách gìn giữ hơi ẩm quý giá. Vùng bờ biển tây bắc và đông nam khô cằn nhận lượng mưa thấp nhất — 600 tới 1200 mm hàng năm — tập trung chủ yếu trong giai đoạn gió mùa mùa đông ngắn ngủi. Thời kỳ ra hoa đa dạng của cây keo thích ứng tốt với điều kiện cằn cỗi nhờ vậy loại cây này phát triển tốt trên Bán đảo Jaffna. Trong số những loài cây của các khu rừng đất khô, một số loài như sơn tiêu, mun, thiết mộc, và dái ngựa có phát triển trên đảo. Ở vùng ẩm, hệ thực vật chủ yếu là các loài cây nhiệt đới xanh tốt quanh năm, những loại cây cao, cây lá rộng và các loại cây leo phong phú. Những khu rừng cận nhiệt đới xanh tốt tương tự với những khu rừng ôn đới tại các vùng cao hơn. Trước kia rừng cây từng bao phủ hầu như toàn bộ hòn đảo, nhưng tới cuối thế kỷ XX, những vùng đất được xếp hạng là rừng và khu bảo vệ rừng chỉ chiếm một phần năm diện tích. Vườn Quốc gia Ruhunu ở phía đông nam là nơi sinh sống của những bầy voi, hươu nai và công, Vườn Quốc gia Wilpattu là nơi bảo tồn và sinh sống của nhiều loài chim nước như cò, bồ nông, cò quăm và cò thìa. Trong Chương trình Mahaweli Ganga thời những năm 1970 1980 ở phía bắc Sri Lanka, chính phủ đã lập bốn vùng với tổng diện tích lên tới 1.900 km² để thành lập các Vườn Quốc gia. Hòn đảo này có ba khu dự trữ sinh quyền, Hurulu, Sinharaja, và Kanneliya-Dediyagala-Nakiyadeniya.
Chính phủ và chính trị
Sri Lanka là một nước cộng hòa dân chủ và là một nhà nước đơn nhất vận hành theo hệ thống bán tổng thống. Sri Lanka cũng là nền dân chủ lâu đời nhất ở châu Á. Hầu hết các điều khoản của hiến pháp có thể được sửa đổi với sự đồng thuận của đa số hai phần ba tại quốc hội. Việc sửa đổi một số đặc điểm cơ bản nhất định của hiến pháp, bao gồm các điều khoản về biểu tượng quốc gia, tôn giáo, giới hạn nhiệm kỳ, việc gọi Sri Lanka là một nhà nước đơn nhất, và bản thân cơ chế bảo vệ hiến pháp, đòi hỏi cả đa số hai phần ba tại Quốc hội và sự chấp thuận thông qua một cuộc trưng cầu dân ý trên toàn quốc. Hiến pháp Sri Lanka chính thức tuyên bố nước này là một nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Giống như nhiều nền dân chủ khác, chính phủ Sri Lanka có ba nhánh quyền lực:
Hành pháp: Tổng thống Sri Lanka là nguyên thủ quốc gia; tổng tư lệnh lực lượng vũ trang; người đứng đầu cơ quan hành pháp, và được bầu phổ thông với nhiệm kỳ 5 năm. Tổng thống đứng đầu nội các và bổ nhiệm các bộ trưởng từ các nghị sĩ quốc hội đắc cử. Tổng thống được miễn trừ truy tố pháp lý trong thời gian tại vị đối với bất kỳ hành động nào đã làm hoặc bỏ qua không làm với tư cách chính thức hoặc cá nhân. Sau khi thông qua tu chính án hiến pháp thứ 19 vào năm 2015, chức vụ tổng thống bị giới hạn tối đa hai nhiệm kỳ, thay vì không giới hạn nhiệm kỳ như trước đây.
Lập pháp: Quốc hội Sri Lanka là cơ quan lập pháp đơn viện gồm 225 thành viên, với 196 thành viên được bầu từ 22 khu vực bầu cử có nhiều ghế và 29 thành viên được bầu theo đại diện tỷ lệ. Các nghị sĩ được bầu thông qua phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ 5 năm. Tổng thống có quyền triệu tập, đình chỉ hoặc kết thúc một kỳ họp lập pháp và giải tán Quốc hội bất cứ lúc nào sau bốn năm rưỡi. Quốc hội nắm giữ quyền lập ra mọi đạo luật. Cấp phó của tổng thống và người đứng đầu chính phủ, tức thủ tướng, là người lãnh đạo đảng cầm quyền trong quốc hội và chia sẻ nhiều trách nhiệm hành pháp, chủ yếu trong các vấn đề đối nội.
Tư pháp: Hệ thống tư pháp của Sri Lanka bao gồm một Tòa án Tối cao—tòa án cấp cao nhất và là tòa án cấp phúc thẩm cuối cùng, một Tòa phúc thẩm, các Tòa án Cấp cao và một số tòa án cấp dưới. Hệ thống pháp luật hết sức phức tạp này phản ánh những ảnh hưởng văn hóa đa dạng. Luật hình sự hầu như dựa hoàn toàn vào luật pháp nước Anh. Dân luật cơ bản bắt nguồn từ Luật La Mã-Hà Lan. Các đạo luật liên quan đến hôn nhân, ly hôn và thừa kế được áp dụng riêng cho từng cộng đồng. Do các tập tục và tôn giáo cổ xưa, luật tục Sinhala (luật Kandyan), luật Thesavalamai và luật Sharia được áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt. Tổng thống bổ nhiệm các thẩm phán cho Tòa án Tối cao, Tòa phúc thẩm và các Tòa án Cấp cao. Một ủy ban dịch vụ tư pháp, bao gồm chánh án và hai thẩm phán Tòa án Tối cao, có quyền bổ nhiệm, thuyên chuyển và cách chức các thẩm phán tòa án cấp dưới.
Phân cấp hành chính
Sri Lanka được chia thành 9 tỉnh và 25 quận. Mỗi tỉnh được quản lý hành chính trực tiếp bởi một ủy ban tỉnh do nhân dân trực tiếp bầu ra. Các tỉnh gồm (tên tỉnh lị nằm trong dấu ngoặc đơn):
Trung Bộ (Kandy)
Bắc Trung Bộ (Anuradhapura)
Bắc Bộ (Jaffna)
Đông Bộ (Trincomalee)
Tây Bắc Bộ (Kurunegala)
Nam Bộ (Galle)
Uva (Badulla)
Sabaragamuwa (Ratnapura)
Tây Bộ (Colombo)
Chính trị
Văn hóa chính trị hiện tại ở Sri Lanka là cuộc cạnh tranh giữa hai liên minh đối thủ: một bên là Liên minh Tự do Nhân dân Thống nhất (UPFA) có khuynh hướng trung tả và tiến bộ, bắt nguồn từ Đảng Tự do Sri Lanka (SLFP); và bên kia là Đảng Quốc gia Thống nhất (UNP) có khuynh hướng cánh hữu và ủng hộ tư bản. Sau năm 2018, hai đảng chính trị lớn đã tách ra khỏi hai liên minh này: đảng Samagi Jana Balawegaya tách khỏi UNP, và đảng Sri Lanka Podujana Peramuna tách khỏi UPFA. Cánh thứ ba là đảng Janatha Vimukthi Peramuna ngày càng giành được nhiều sự ủng hộ kể từ năm 2022.
Về cơ bản, Sri Lanka là một nền dân chủ đa đảng với nhiều đảng phái chính trị nhỏ đại diện cho Phật giáo, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa dân tộc Tamil. Tính đến tháng 7 năm 2011, có 67 đảng chính trị được đăng ký tại quốc gia này. Trong số đó, Đảng Lanka Sama Samaja (LSSP), thành lập năm 1935, là đảng lâu đời nhất.
UNP, do D. S. Senanayake thành lập năm 1946, cho đến gần đây vẫn là đảng chính trị đơn lẻ lớn nhất. Đây là nhóm chính trị duy nhất luôn có đại diện trong tất cả các nhiệm kỳ quốc hội kể từ khi đất nước độc lập. SLFP do S. W. R. D. Bandaranaike thành lập vào tháng 7 năm 1951. SLFP giành chiến thắng đầu tiên vào năm 1956, đánh bại đảng cầm quyền UNP trong cuộc bầu cử quốc hội năm 1956. Sau cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 7 năm 1960, Sirimavo Bandaranaike trở thành thủ tướng và là người đứng đầu chính phủ dân bầu đầu tiên trên thế giới là nữ.
G. G. Ponnambalam, một người theo chủ nghĩa dân tộc Tamil có tầm ảnh hưởng tương đương S. W. R. D. Bandaranaike, đã thành lập Đảng Đại hội Tamil Toàn Ceylon (ACTC) vào năm 1944. Phản đối việc Ponnambalam hợp tác với D. S. Senanayake, một nhóm bất đồng chính kiến do S.J.V. Chelvanayakam lãnh đạo đã tách ra vào năm 1949 và thành lập đảng Illankai Tamil Arasu Kachchi (ITAK), còn được gọi là Đảng Liên bang, trở thành đảng chính trị chính của người Tamil ở Sri Lanka trong hai thập kỷ tiếp theo. Đảng Liên bang chủ trương một lập trường cứng rắn hơn đối với người Sinhala. Cùng với những cải cách hiến pháp năm 1972, ACTC và ITAK đã sáp nhập thành Mặt trận Thống nhất Tamil (sau này là Mặt trận Giải phóng Thống nhất Tamil). Sau một thời kỳ hỗn loạn khi các chiến binh Tamil trỗi dậy nắm quyền vào cuối những năm 1970, Liên minh Quốc gia Tamil đã tiếp quản vai trò của các đảng phái chính trị Tamil này vào tháng 10 năm 2001.
Janatha Vimukthi Peramuna, một đảng chính trị Mác-Lênin do Rohana Wijeweera thành lập năm 1965, đóng vai trò là lực lượng thứ ba trong bối cảnh chính trị hiện tại. Đảng này ủng hộ các chính sách cánh tả có phần cấp tiến hơn so với nền chính trị cánh tả truyền thống của LSSP và Đảng Cộng sản. Đại hội Hồi giáo Sri Lanka được thành lập năm 1981 là đảng chính trị Hồi giáo lớn nhất tại quốc gia này.
Tổng thống Mahinda Rajapaksa thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2015, chấm dứt 10 năm cầm quyền của ông. Tuy nhiên, người kế nhiệm ông ở vị trí Tổng thống Sri Lanka, Maithripala Sirisena, đã quyết định không tái tranh cử vào năm 2019. Gia tộc Rajapaksa giành lại quyền lực trong cuộc bầu cử tổng thống tháng 11 năm 2019 khi em trai của Mahinda và là cựu chỉ huy quốc phòng thời chiến Gotabaya Rajapaksa đắc cử, sau đó ông tuyên thệ nhậm chức tân tổng thống của Sri Lanka. Quyền lực của họ càng được củng cố vững chắc hơn qua cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 8 năm 2020. Đảng chính trị của gia tộc này, Mặt trận Nhân dân Sri Lanka (được biết đến với tên viết tắt tiếng Sinhala là SLPP), đã giành chiến thắng vang dội và chiếm đa số áp đảo tại quốc hội. Năm thành viên của gia tộc Rajapaksa đã giành được ghế trong quốc hội khóa mới. Cựu tổng thống Mahinda Rajapaksa trở thành tân thủ tướng.
Năm 2022, một cuộc khủng hoảng chính trị đã nổ ra do cuộc tranh giành quyền lực giữa Tổng thống Gotabaya Rajapaksa và Quốc hội Sri Lanka. Cuộc khủng hoảng này bị châm ngòi bởi các cuộc biểu tình chống chính phủ của người dân cũng như tình trạng ngày càng tồi tệ của nền kinh tế Sri Lanka kể từ năm 2019. Làn sóng phẫn nộ với chính phủ trên khắp Sri Lanka đã gây ra bất ổn chính trị chưa từng có, tạo nên những cú sốc lớn trên chính trường nước này.
Ngày 20 tháng 7 năm 2022, Ranil Wickremesinghe đã được bầu làm Tổng thống thông qua một cuộc bầu cử tại quốc hội. Tổng thống Ranil Wickremesinghe sau đó đã thất bại trước ứng cử viên thiên tả Anura Kumara Dissanayake trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2024.
Đối ngoại
Sri Lanka là một thành viên sáng lập của Phong trào không liên kết. Sri Lanka có quan hệ đối ngoại thân mật với Ấn Độ. Sri Lanka gia nhập Liên Hợp Quốc vào năm 1955. Hiện tại, Sri Lanka là thành viên của Khối Thịnh vượng chung, Hiệp hội Nam Á vì sự Hợp tác Khu vực, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu Á và Chương trình Colombo.
Theo truyền thống, Đảng Quốc gia Thống nhất ưu tiên các mối quan hệ với phương Tây, trong khi Đảng Tự do Sri Lanka lại nghiêng về mối quan hệ với phương Đông. Bộ trưởng Tài chính Sri Lanka J. R. Jayewardene cùng với Bộ trưởng Ngoại giao Úc lúc bấy giờ là Ngài Percy Spencer đã đề xuất Kế hoạch Colombo tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Khối Thịnh vượng chung được tổ chức ở Colombo năm 1950. Tại Hội nghị Hòa bình San Francisco năm 1951, trong khi nhiều quốc gia còn e ngại, Sri Lanka đã lên tiếng ủng hộ một nước Nhật Bản tự do và từ chối nhận bồi thường cho những thiệt hại trong Chiến tranh thế giới thứ hai vì tin rằng điều đó sẽ gây tổn hại cho nền kinh tế của Nhật Bản. Mối quan hệ Sri Lanka - Trung Quốc bắt đầu ngay từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập vào năm 1949. Hai nước đã ký kết Hiệp ước Cao su-Gạo quan trọng vào năm 1952. Sri Lanka đóng vai trò then chốt tại Hội nghị Á - Phi năm 1955, một bước đi quan trọng trong việc hình thành Phong trào Không liên kết.
Chính phủ Bandaranaike năm 1956 đã thay đổi đáng kể các chính sách thân phương Tây của chính phủ UNP. Chính phủ này đã công nhận nhà nước Cuba dưới sự lãnh đạo của Fidel Castro vào năm 1959. Ngay sau đó, nhà cách mạng Cuba Che Guevara đã có chuyến thăm tới Sri Lanka. Hiệp ước Sirima–Shastri năm 1964 và Hiệp ước Sirima–Gandhi năm 1974 đã được ký kết giữa các nhà lãnh đạo Sri Lanka và Ấn Độ nhằm nỗ lực giải quyết cuộc tranh chấp lâu năm về tình trạng của những công nhân đồn điền gốc Ấn Độ. Năm 1974, Kachchatheevu, một hòn đảo nhỏ nằm ở Eo biển Palk, chính thức được nhượng lại cho Sri Lanka. Mối quan hệ giữa Sri Lanka và Ấn Độ trở nên căng thẳng dưới thời chính quyền của J. R. Jayawardene. Vì lý do này, Sri Lanka đã từng áp dụng trong một thời gian ngắn chính sách 'Hướng Đông', và có thời điểm họ đã theo đuổi việc gia nhập ASEAN thay vì gia nhập SAARC. Sự rạn nứt ngày càng trầm trọng đã dẫn đến việc Ấn Độ can thiệp vào Nội chiến Sri Lanka và sau đó triển khai Lực lượng Gìn giữ Hòa bình Ấn Độ vào năm 1987. Hiện nay, Sri Lanka đang duy trì các mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc, Nga, và Pakistan.
Quân sự
Lực lượng Vũ trang Sri Lanka, bao gồm Lục quân Sri Lanka, Hải quân Sri Lanka và Không quân Sri Lanka, chịu sự quản lý của Bộ Quốc phòng. Tổng quân số của ba quân chủng này là khoảng 346.000 người, cùng với gần 36.000 quân dự bị. Sri Lanka không áp dụng chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc. Các đơn vị bán quân sự bao gồm Lực lượng Đặc nhiệm, Lực lượng An ninh Dân sự và Lực lượng Tuần duyên Sri Lanka.
Kể từ khi giành độc lập vào năm 1948, trọng tâm chính của lực lượng vũ trang nước này là đảm bảo an ninh nội địa, trấn áp ba cuộc nổi dậy lớn, trong đó có hai cuộc nổi dậy do các tay súng Marxist thuộc đảng JVP tiến hành và một cuộc xung đột kéo dài 26 năm với Lực lượng Những con hổ giải phóng Tamil (LTTE). Lực lượng vũ trang Sri Lanka đã được đặt trong tình trạng tổng động viên liên tục suốt 30 năm qua. Các lực lượng vũ trang của quốc gia này cũng đã tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc từ đầu thập niên 1960, đóng góp quân số cho các đội hình thường trực được triển khai tại một số phái bộ của Liên Hợp Quốc ở Chad, Lebanon và Haiti.
Theo Chỉ số Hòa bình Toàn cầu năm 2024, Sri Lanka là quốc gia hòa bình thứ 100 trên thế giới.
Nhân quyền
Về mặt chính thức, hiến pháp Sri Lanka bảo đảm các quyền con người như đã được Liên Hợp Quốc phê chuẩn. Tuy nhiên, một số tổ chức như Tổ chức Ân xá Quốc tế, Freedom from Torture, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, cũng như chính phủ Anh và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã lên tiếng chỉ trích tình trạng vi phạm nhân quyền tại Sri Lanka. Cả Chính phủ Sri Lanka và tổ chức LTTE đều bị cáo buộc vi phạm nhân quyền. Một báo cáo từ ban cố vấn của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đã cáo buộc cả LTTE và chính phủ Sri Lanka phạm tội ác chiến tranh trong những giai đoạn cuối của cuộc nội chiến. Tham nhũng vẫn là một vấn nạn lớn ở Sri Lanka, và những người đứng lên chống lại tham nhũng nhận được rất ít sự bảo vệ. Điều 365 của Bộ luật Hình sự Sri Lanka (đã 135 năm tuổi) hình sự hóa các hành vi đồng tính luyến ái, với mức án có thể lên tới 10 năm tù.
Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã ghi nhận hơn 12.000 cá nhân bị mất tích sau khi bị lực lượng an ninh Sri Lanka giam giữ. Đây là con số cao thứ hai trên thế giới kể từ khi Nhóm Công tác về vấn đề này được thành lập vào năm 1980. Chính phủ Sri Lanka xác nhận 6.445 người trong số đó đã tử vong. Tuy nhiên, các cáo buộc về lạm dụng nhân quyền vẫn chưa chấm dứt kể cả khi cuộc xung đột sắc tộc đã khép lại.
Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc Navanethem Pillay đã đến thăm Sri Lanka vào tháng 5 năm 2013. Sau chuyến thăm, bà phát biểu: "Chiến tranh [tại Sri Lanka] có thể đã kết thúc, nhưng trong lúc đó, nền dân chủ đã bị suy yếu và pháp quyền bị xói mòn." Bà Pillay đề cập đến sự can thiệp ngày càng sâu của quân đội vào đời sống dân sự cũng như các báo cáo về việc quân đội chiếm đoạt đất đai. Bà cũng cho biết, trong thời gian ở Sri Lanka, dù được tự do đi lại bất cứ đâu mình muốn, nhưng những người dân Sri Lanka đến gặp bà đều bị lực lượng an ninh quấy rối và đe dọa.
Năm 2012, tổ chức từ thiện của Anh mang tên Freedom from Torture báo cáo đã tiếp nhận 233 trường hợp nạn nhân sống sót sau tra tấn từ Sri Lanka được chuyển đến để điều trị lâm sàng hoặc sử dụng các dịch vụ khác do tổ chức này cung cấp. Cùng năm đó, nhóm đã xuất bản ấn phẩm Out of the Silence (Thoát khỏi sự im lặng), trong đó ghi lại bằng chứng về các hành vi tra tấn ở Sri Lanka và chứng minh rằng vấn nạn này vẫn tiếp diễn rất lâu sau khi cuộc nội chiến kết thúc vào năm 2009. Vào ngày 29 tháng 7 năm 2020, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho biết chính phủ Sri Lanka đã nhắm mục tiêu vào các luật sư, người bảo vệ nhân quyền và nhà báo nhằm đàn áp những tiếng nói chỉ trích chính phủ.
Kinh tế
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, GDP của Sri Lanka tính theo sức mua tương đương đứng thứ hai trong khu vực Nam Á về thu nhập bình quân đầu người. Vào thế kỷ 19 và 20, Sri Lanka trở thành một nền kinh tế đồn điền nổi tiếng với việc sản xuất và xuất khẩu quế, cao su cùng với trà Ceylon, vốn vẫn là một mặt hàng xuất khẩu mang thương hiệu quốc gia cho đến nay. Việc phát triển các cảng biển hiện đại dưới thời cai trị của thực dân Anh đã nâng cao tầm quan trọng chiến lược của hòn đảo. Từ năm 1948 đến 1977, chủ nghĩa xã hội đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các chính sách kinh tế của chính phủ. Các đồn điền thời thuộc địa bị tháo dỡ, các ngành công nghiệp bị quốc hữu hóa và một nhà nước phúc lợi được thiết lập. Năm 1977, nền kinh tế thị trường tự do được áp dụng, đi kèm với các chính sách tư nhân hóa, bãi bỏ quy định và thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân.
Mặc dù việc sản xuất và xuất khẩu trà, cao su, cà phê, đường cùng các mặt hàng khác vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng quá trình công nghiệp hóa đã làm tăng thêm tầm quan trọng của các ngành chế biến thực phẩm, dệt may, viễn thông và tài chính. Các lĩnh vực kinh tế chính của đất nước là du lịch, xuất khẩu trà, may mặc, sản xuất lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp khác. Bên cạnh các lĩnh vực này, lao động ở nước ngoài, đặc biệt là ở khu vực Trung Đông, cũng đóng góp một nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước.
Năm 2020, khu vực dịch vụ chiếm 59,7% GDP, khu vực công nghiệp chiếm 26,2% và khu vực nông nghiệp chiếm 8,4%. Khu vực tư nhân chiếm tới 85% quy mô nền kinh tế. Trung Quốc, Ấn Độ và Hoa Kỳ là những đối tác thương mại lớn nhất của Sri Lanka. Sự chênh lệch kinh tế vẫn tồn tại giữa các tỉnh, trong đó Tỉnh Tây đóng góp 45,1% GDP, còn Tỉnh Nam và Tỉnh Trung tâm đóng góp lần lượt là 10,7% và 10%. Sau khi chiến tranh kết thúc, Tỉnh Bắc đã ghi nhận mức tăng trưởng GDP kỷ lục đạt 22,9% vào năm 2010.
Thu nhập bình quân đầu người của Sri Lanka đã tăng gấp đôi trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2011. Trong cùng thời kỳ, tỷ lệ nghèo đói giảm từ 15,2% xuống 7,6%, tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 7,2% xuống 4,9%, vốn hóa thị trường của Sở giao dịch chứng khoán Colombo tăng gấp bốn lần và thâm hụt ngân sách chính phủ tăng gấp đôi. Khoảng 99% hộ gia đình ở Sri Lanka đã có điện; 93,2% dân số được tiếp cận với nguồn nước uống an toàn; và 53,1% được sử dụng nước máy. Tình trạng bất bình đẳng thu nhập cũng đã giảm trong những năm gần đây, thể hiện qua hệ số Gini đạt mức 0,36 vào năm 2010.
Năm 2016, Sri Lanka xếp thứ 5 trong Chỉ số Cho đi Thế giới (World Giving Index), cho thấy mức độ hài lòng và tinh thần từ thiện rất cao trong xã hội nước này. Năm 2010, tờ The New York Times đã xếp Sri Lanka đứng đầu trong danh sách 31 điểm đến nên ghé thăm. Tính đến năm 2018, S&P Dow Jones Indices phân loại Sri Lanka là một thị trường cận biên. Về Chỉ số Phát triển Con người (HDI), Sri Lanka xếp hạng vượt trội so với các quốc gia Nam Á khác với mức điểm 0,750.
Đến năm 2016, do đầu tư mạnh vào phát triển cơ sở hạ tầng, nợ công của đất nước đã tăng vọt đến mức cận kề phá sản, buộc chính phủ phải xin gói cứu trợ từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
Vào tháng 9 năm 2021, Sri Lanka tuyên bố tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Thống đốc Ngân hàng Trung ương nước này đã phải từ chức giữa bối cảnh khủng hoảng. Do tình hình cấp bách, Quốc hội đã ban hành các quy định khẩn cấp nhằm ngăn chặn hành vi "đầu cơ tích trữ lương thực".
Giao thông
Đa số các thành phố Sri Lanka đều được kết nối với mạng đường sắt, do công ty nhà nước Sri Lanka Railways, điều hành. Tuyến đường sắt đầu tiên được khánh thành ngày 26 tháng 4 năm 1867, nối Colombo với Kandy. Tổng chiều dài các con đường tại Sri Lanka vượt quá 11.000 kilômét, đa số đã được trải nhựa. Chính phủ đã đưa ra nhiều chương trình đường cao tốc nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế và hệ thống vận tải quốc gia, gồm tuyến Đường cao tốc Colombo-Katunayake, Đường cao tốc Colombo-Kandy (Kadugannawa), Đường cao tốc Colombo-Padeniya và Xa lộ Vành đai ngoài nhằm giảm nhẹ áp lực giao thông cho Colombo. Cũng có những kế hoạch xây dựng một cây cầu lớn nối Jaffna với thành phố Chennai của Ấn Độ.
Ceylon Transport Board là cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm điều hành các dịch vụ xe buýt trên toàn hòn đảo. Sri Lanka cũng có 430 kilômét đường thủy nội địa. Nước này có các cảng nước sâu tại Colombo, Trincomalee và Galle. Cũng có một cảng nông, và nhỏ hơn tại Kankesanturai, phía bắc Jaffna. Có 12 sân bay có đường băng trải nhựa và 2 sân bay đường băng đất tại Sri Lanka. SriLankan Airlines là hãng vận chuyển hàng không chính thức quốc gia, một phần công ty này hiện do Emirates sở hữu và điều hành. Hãng đã được Skytrax bầu là hãng hàng không tốt nhất khu vực Nam Á. SriLankan Air Taxi là công ty nhỏ hơn, chuyên chở hàng không nội địa, trong khi Expo Aviation và Lankair là những công ty hàng không tư nhân. Sân bay Quốc tế Bandaranaike là cảng hàng không quốc tế duy nhất của đất nước, nằm tại Katunayaka, cách Colombo 22 km về phía bắc.
Du lịch
Ngành du lịch Sri Lanka đang trên đà phục hồi, với doanh thu đạt hơn 1,5 tỷ USD trong nửa đầu năm 2024, tăng 78% so với cùng kỳ năm trước. Lượng khách du lịch cũng tăng lên mức 1,01 triệu lượt, cao hơn 62% so với cùng kỳ năm 2023. Sự tăng trưởng này là nhờ vào các biện pháp chủ động của chính phủ cũng như những cải thiện từ hãng hàng không quốc gia SriLankan Airlines. Chính phủ đã triển khai một chiến dịch tiếp thị du lịch toàn cầu và miễn thị thực cho du khách đến từ một số quốc gia nhằm kích cầu du lịch.
Nhân khẩu
Sri Lanka là nước đông dân thứ 53 trên thế giới, với tốc độ tăng trưởng dân số hàng năm 0,79%. Sri Lanka có mức sinh 15,63 trẻ trên 1.000 người và mức tử 6,49 trên 1,000 dân. Mật độ dân số cao nhất ở khu vực phía tây Sri Lanka, đặc biệt tại và xung quanh Colombo. Một lượng nhỏ dân số là người Wanniyala-Aetto, cũng được gọi là Veddahs. Họ được cho là nhóm người bản xứ xa xưa nhất của hòn đảo. Người Sinhala là nhóm sắc tộc đông nhất nước, chiếm khoảng 74% tổng dân số. Người Tamil Sri Lanka chiếm 18% dân số và chủ yếu tập trung ở vùng phía đông bắc đất nước. Những người Tamil trước kia được thực dân Anh đưa tới đây từ Ấn Độ với tư cách những lao động giao kèo để làm việc trên những cánh đồng, được gọi là người Tamil "Gốc Ấn Độ". Họ khác biệt với người Tamil bản xứ đã từng sống ở Sri Lanka từ thời cổ đại. Một lượng không nhỏ dân số là người Moor, họ có nguồn gốc từ những nhà buôn và người nhập cư Ả rập. Họ chủ yếu sống tại các tỉnh phía đông. Ngoài ra còn có các nhóm sắc tộc nhỏ khác như Burghers (lai con cháu người châu Âu) và người Malay.
Nội dung từ Wikipedia, giấy phép CC BY-SA. Lấy trực tiếp qua API Wikipedia.